Can thiệp sớm trầm cảm sau sinh

Đa số phụ nữ đều trải qua những thay đổi tâm lý ngay sau khi sinh. Các cảm xúc đó thường không kéo dài, chỉ vài ngày và hầu hết đều vượt qua nhẹ nhàng. Tuy nhiên cần chú ý những dấu hiệu tâm lý tiêu cực, kéo dài phải can thiệp và điều trị sớm.

Sau khi sinh, một số phụ nữ có thể chợt vui, chợt buồn, lo âu, dễ bị kích thích, khó tập trung, mất cảm giác ngon miệng hoặc khó ngủ,… Thường xảy ra ở những bà mẹ sinh con đầu lòng do trong quá trình sinh nở gặp biến cố, sau khi sinh bị áp lực về nuôi con, gia đình không có sự thống nhất về phương pháp,... chăm sóc trẻ, thiếu sự quan tâm của chồng gây căng thẳng cho sản phụ...

Can thiệp sớm trầm cảm sau sinh 1
Ảnh minh họa

Các triệu chứng trên thường xuất hiện khoảng vài ngày sau sinh, và có thể kéo dài trong khoảng 1 tuần thì chấm dứt. Hiện tượng này  được xem là một phản ứng bình thường của nhiều sản phụ. Tuy nhiên, nếu tình trạng đó kéo dài vài tuần với các triệu chứng ngày càng nghiêm trọng như: luôn cảm thấy buồn, thờ ơ với những sự việc chung quanh, ăn không ngon, sụt cân, khó ngủ, luôn cảm thấy mệt mỏi, thường khóc không lý do, cảm thấy bồn chồn, âu lo, dễ tức giận, bi quan về tương lai,... thì sản phụ đã bị rối loạn trầm cảm sau sinh cần có biện pháp can thiệp sớm.

Để điều trị và phòng ngừa các biểu hiện trầm cảm sau sinh, ngoài điều trị bằng phối hợp thuốc chống trầm cảm theo chỉ định của bác sĩ và tâm lý liệu pháp, trước khi sinh cả thai phụ và người chồng cần được giáo dục tiền sản để được cung cấp những kiến thức cơ bản về cách chăm sóc em bé, tình trạng sức khỏe và những nhu cầu tâm lý của người mẹ trong giai đoạn thai kỳ, hậu sản để người chồng có thể hỗ trợ vợ mình một cách tốt nhất.

Ngoài ra các thành viên trong gia đình cần chú ý tạo một bầu không khí vui vẻ, đầm ấm, cùng nhau chăm sóc em bé và quan tâm đến sức khỏe người mẹ để người mẹ cảm thấy được chia sẻ sau lần vượt cạn. Bản thân người mẹ cũng nên chủ động đề nghị những người trong gia đình chia sẻ những khó khăn, vất vả khi chăm sóc em bé để có thời gian nghỉ ngơi, hồi phục sức khỏe sau sinh.

Bác sĩ Thu Lan

Một số phương pháp đánh giá béo phì

Phương pháp đo nhân trắc

Trên lâm sàng, béo phì được biểu hiện bởi sự tăng cân được xác định bằng phương pháp đo nhân trắc lâm sàng, gồm:

-Chỉ số khối cơ thể (BMI): Dưới chuẩn khi BMI < 18.5; Chuẩn: BMI từ 18,5 – 25; Thừa cân: BMI từ 25-30 ; Béo phì: BMI trên/hoặc bằng 30. - Công thức Lorenz (Trọng lượng thực/trọng lượng lý tưởng) x 100%. Nếu > 120-130%: tăng cân. Nếu> 130 %: béo phì. - Độ dày của nếp gấp da (phản ánh lớp mỡ dưới da): Có thể đo bằng compar, ở nhiều vị trí. Trên lâm sàng thường đo ở cánh tay (cơ tam đầu), giữa vai và đùi. Trung bình, độ dày nếp gấp cơ tam đầu là 16,5 đối với nam và 12,5 đối với nữ. Chỉ số cánh tay đùi: 0,58 đối với nam và 0,52 đối với nữ. Chỉ số vòng bụng vòng mông: < 0,9 đối với nam, <0,85 đối với nữ.Siêu âm

Phương pháp này dùng đo độ dày mô mỡ tại vị trí muốn xác định như cánh tay, đùi, bụng… Theo đó, độ dày của mô mỡ nông có thể được đo trực tiếp chính xác bằng cách đặt đầu dò thẳng góc với mặt da, không ép, ở tại điểm muốn xác định. Kỹ thuật có thể phân biệt rõ ràng giới hạn phần mỡ, cơ và xương.

beo phiSiêu âm xác định độ dày mô mỡ.

Chụp cắt lớp tỉ trọng

Dùng xác định được lượng mỡ phân bố ở da và các tạng. Phương pháp này mới được áp dụng gần đây để đánh giá sự phân bố mỡ. Nó có thể định lượng mỡ phân bố ở dưới da và quanh tạng.Từ phần cắt ngang của scanner, có thể tính được bề mặt choán chỗ của mô mỡ. Lợi điểm của phương pháp này có thể xác định bề mặt mô mỡ sâu quanh tạng. Phần cắt ngang qua L4-L5 sẽ cho phép phân biệt chính xác sự khác nhau về phân bố mỡ giữa hai giới. Sự đánh giá bằng phương pháp này cho kết quả đáng tin cậy, chính xác, tuy nhiên giá kỹ thuật đắt, dụng cụ nặng nề khó thực hiện ở các tuyến thông thường.

Ngoài ra, có thể đo lượng mỡ hiện có và lượng mỡ lý tưởng của cơ thể từ đó tính ra lượng mỡ dư thừa.

BS. Lê Xuân Bách

Biểu hiện và cách trị đái tháo nhạt

Minh Hằng (Thanh Hóa)

Đái tháo nhạt tuy là căn bệnh ít khi gây biến chứng nguy hiểm nhưng làm ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc sống, sinh hoạt hàng ngày của người bệnh, đôi khi cũng có thể gây biến chứng mất nước nặng. Biểu hiện là người bệnh tiểu tiện nhiều (4-8 lít/ngày), có những trường hợp nặng có thể lên tới 40 lít/ngày; nước tiểu nhạt màu, không có đường, không có protein, tỷ trọng rất thấp. Do tiểu nhiều nên bệnh nhân rất khát và uống rất nhiều. Trẻ em thường kêu khóc đòi uống nước, khi cho uống đủ nước thì nín. Lượng nước vào gần tương đương với lượng tiểu ra.

Các triệu chứng toàn thân: Lúc đầu thường ít thay đổi, ngoại trừ ở trẻ nhỏ có thể thấy dấu hiệu mất nước mạn tính. Da người bệnh khô, xanh và ít ra mồ hôi, trẻ không thấy tăng cân, suy dinh dưỡng, sốt cao không rõ nguyên nhân...

Về điều trị, với mọi bệnh nhân đái tháo nhạt thì điều trị đầu tiên và quan trọng nhất là phải uống đủ nước. Lượng nước uống vào gần tương đương với lượng nước tiểu. Với những bệnh nhân bị bệnh nhẹ có thể chỉ cần uống bù đủ nước mà không cần dùng thuốc. Những bệnh nhân nặng cần phải được điều trị. Việc điều trị đặc hiệu phụ thuộc loại đái tháo nhạt như: đái tháo nhạt trung ương hay đái tháo nhạt do thận. Vì vậy, để xác định bệnh chính xác và điều trị phù hợp, chị cần đến chuyên khoa nội tiết để được khám và tư vấn cụ thể.

ThS. Quang Bảy

Quế giúp tăng cường trí nhớ

Nghiên cứu gần đây của Mỹ cho thấy quế có tác dụng tốt cho não bộ, giúp tăng cường trí nhớ.

Quế có tác dụng chống viêm, kháng khuẩn, kháng virus. Những nghiên cứu trước đây cho thấy quế giàu chất chống oxy hóa vì vậy được xem như là thực phẩm giúp làm chậm xuất hiện bệnh Alzheimer.

Nghiên cứu mới cho thấy một hợp chất khác có trong quế đó là natri benzoat có tác dụng tốt cho não bộ. Kết quả nghiên cứu được công bố trên Tạp chí "Le Journal of Neuroimmune Pharmacology" cho thấy rằng quế giúp cải thiện trí nhớ, làm chậm suy giảm nhận thức và điều này không chỉ tốt cho người cao tuổi mà ngay cả giới trẻ.

Các nhà nghiên cứu của Đại học "Rush et du Veterans Affairs Medical Center de Chicago"- Mỹ đã tiến hành nghiên cứu trên chuột. Để đánh giá khả năng ghi nhớ của chuột, họ đã đặt những con chuột vào trong "mê cung" và đầu kia là miếng mồi ngon. Điều này cho phép các nhà nghiên cứu chia chuột làm 2 nhóm. Nhóm thứ 1 là nhóm chuột tìm đường ra rất nhanh và nhóm thứ 2 phải mất nhiều thời gian để tìm lối ra. Sau đó họ đã bổ sung thêm quế vào thức ăn của nhóm chuột thứ 2 trong thời gian 1 tháng, thử lại thí nghiệm như lần đầu và cho thấy kết quả khả quan hơn.

Khi những con chuột chậm nhất phải mất trung bình khoảng 150 giây để tìm lối ra trong thử nghiệm lần 1 thì trong thử nghiệm thứ 2 chỉ mất khoảng 60 giây và như vậy sau 1 tháng bổ sung thêm quế vào trong khẩu phần ăn, chuột đã mất ít thời gian hơn để tìm lối ra (giảm được 90 giây). Vậy điều gì đã xảy ra? Các nhà nghiên cứu đã tiến hành phân tích tế bào của não chuột, họ đã nhận thấy rằng chính natri benzoat có trong quế có tác dụng trực tiếp lên vùng hải mã- trung tâm chính của bộ nhớ, ngoài ra còn có tác dụng cải thiện cấu trúc của tế bào.

Tuy nhiên nếu natri benzoat được cho là có hại cho gan khi tiêu thụ lượng lớn thì theo các nhà khoa học đã nhận thấy khá an toàn trong quế và khi được chuyển hóa sẽ nhanh chóng đào thải qua nước tiểu.

Những thử nghiệm ban đầu đã thành công trên chuột nhưng cần phải có những thử nghiệm trên người. Tuy nhiên một điều chắc chắn rằng chỉ cần rắc nhúm quế vào bánh ngọt hay trà, bạn sẽ có thể tiêu thụ một lượng chất chống oxy hóa! Hơn thế nữa quế còn giúp điều chỉnh lượng đường trong máu, giảm cảm giác mệt mỏi.

Bs Ái Thủy

(Theo Metronews.fr)

Thanh sương tử mát gan, thanh nhiệt

Thanh sương tử còn có tên là thanh tương tử, mào gà trắng, đuôi lươn, dã kê quan, là hạt chín của cây mào gà trắng (Celosia argentea L.),. Thanh sương tử chứa dầu béo, nitrat, kali, acid nicotinic (vitamin PP).

Hạt vị đắng, tính hơi hàn; vào kinh can; có tác dụng thanh can minh mục, sơ phong thanh nhiệt. Làm mát gan sáng mắt. Dùng cho các trường hợp mắt đỏ, đau sưng nề, kéo màng, lở ngứa ngoài da. Hoa vị nhạt, tính mát; có tác dụng thanh nhiệt, mát huyết, cầm máu, tiêu viêm. Lá cây thanh sương tử trị viêm phế quản, hen phế quản, viêm dạ dày ruột. Dùng nước sắc để tắm có thể trị mẩn ngứa ngoài da, mề đay, sưng mủ, trĩ xuất huyết. Hằng ngày dùng 10 - 20g dưới dạng nấu, hầm, sắc. Sau đây là một số cách dùng thanh sương tử làm thuốc.

Thanh sương tử là hạt của cây mào gà trắng, tác dụng mát gan, sáng mắt.

Mát gan, sáng mắt: trị chứng can hoả bốc lên làm mắt đỏ sưng đau, mắt có màng, nhìn mờ.

Bài 1: thanh sương tử 12g, tang diệp 12g, cúc hoa 12g, mộc tặc 12g, long đởm thảo 4g. Sắc uống. Trị can hỏa bốc gây đau mắt đỏ, sợ ánh sáng, chảy nước mắt, váng đầu, nhức đầu…

Bài 2: thanh sương tử 20g, cốc tinh thảo 20g. Sắc uống. Trị mắt kéo màng, nhìn mờ.

Bài 3: thanh sương tử 12g, mật mông hoa 12g, cúc hoa 12g. Sắc uống. Trị viêm màng tiếp hợp cấp tính, mắt đỏ, sợ ánh sáng.

Bài 4: Thanh tương tử: lá dâu, cúc hoa, cỏ tháp bút, mỗi vị 12g; cỏ thanh ngâm 4g. Sắc uống và xông chữa mắt sưng đau, chói, sợ ánh sáng, chảy nước mắt và đau đầu.

Chữa trĩ ra máu: hạt và hoa mào gà 15g. Sắc uống trong ngày.

Chữa hen phế quản: lá mào gà trắng, lá bồng bồng, lá xương sông, dây tơ hồng (sao), mỗi vị 20g. Sắc uống.

Món ăn thuốc có thanh sương tử

Nước hãm thanh tương tử - đại táo: thanh tương tử 15g, đại táo 30g; hãm nước sôi, uống trước khi ăn. Dùng cho người bị quáng gà, giảm thị lực.

Thanh tương tử hầm gan gà: thanh tương tử 15g, gan gà 1 - 3 bộ, thêm gia vị hầm chín ăn. Món này rất tốt cho người bị đau mắt đỏ do viêm kết giác mạc chảy nước mắt.

Kiêng kỵ: Thanh sương tử thanh nhiệt rất mạnh, có tác dụng giãn đồng tử; người can thận hư và đồng tử giãn rộng kiêng dùng.

BS. Tiểu Lan

Hạt hạnh nhân, dưỡng chất tuyệt vời bảo vệ tim mạch

Cây hạnh nhân (Prunus dulcis, syn. Prunus amygdalus) là một loài cây bản địa từ Trung Đông, Ấn Độ và Bắc Phi.

Quả của hạnh nhân là một quả hạch, bao gồm một vỏ bên ngoài và một lớp vỏ cứng với hạt giống bên trong. Hạnh nhân được bán còn vỏ hoặc chưa bóc vỏ.

Nhiều nghiên cứu cho thấy hạt hạnh nhân có lợi ích bảo vệ tim mạch, với các lý do sau :

Hạnh nhân hạ LDL-cholesterol máu và giảm nguy cơ bệnh tim

Một thực phẩm giàu chất béo đó là tốt cho sức khỏe của bạn? Hạnh nhân có nhiều chất béo không bão hòa đơn, một loại chất béo tăng cường sức khỏe như được tìm thấy trong dầu ô liu, trong đó có liên quan với giảm nguy cơ bệnh tim. Năm nghiên cứu dịch tễ học lớn, bao gồm the Nurses Health Study, Iowa Health Study, Adventist Health Study và Physicians Health Study, tất cả thấy rằng tiêu thụ hạt hạnh nhân liên quan với giảm nguy cơ đối với bệnh tim.

Các nhà nghiên cứu đã nghiên cứu dữ liệu từ Nurses Health Study ước tính thay thế các loại hạt cho một số lượng tương đương của carbohydrate trong chế độ ăn uống hàng ngày dẫn đến giảm 30% nguy cơ bệnh tim. Các nhà nghiên cứu tính toán thậm chí còn kết luận giảm nguy cơ ấn tượng hơn với 45% khi chất béo lấy từ hạt hạnh nhân thay thế cho các chất béo bão hòa (được tìm thấy chủ yếu trong thịt và các sản phẩm sữa).

hanh nhan, hat hanh nhan, hanh nhan la duong chat tuyet voi bao ve tim mach

Hạnh nhân là dưỡng chất tuyệt vời chống xơ vữa động mạch

Một nghiên cứu được công bố trên tạp chí dinh dưỡng Anh quốc British Journal of Nutrition chỉ ra rằng khi các loại thực phẩm độc lập được biết đến để giảm cholesterol, như hạnh nhân, được kết hợp trong chế độ ăn uống lành mạnh, là một thực phẩm phụ gia có lợi. Trong nghiên cứu của 12 bệnh nhân có mức LDL cholesterol cao, một chế độ ăn uống có chứa hạnh nhân và các loại hạt khác, sterol thực vật (cũng được tìm thấy trong các loại hạt), protein đậu nành và chất xơ hòa tan (với số lượng cao trong các loại đậu, yến mạch, lê) làm giảm nồng độ LDL cholesterol (loại mỡ làm tăng nguy cơ cao nhất đối với bệnh tim mạch) với mức giảm tối đa chỉ sau 2 tuần.

Vitamin E, magiê, kali trong hạnh nhân phòng bệnh tim, ngừa đau tim và chống xơ vữa động mạch

Ngoài tác dụng làm giảm cholesterol, khả năng hạnh nhân làm giảm nguy cơ bệnh tim cũng có thể một phần do tác động chống oxy hóa của vitamin E được tìm thấy trong hạnh nhân, cũng như các tác dụng hạ LDL cholesterol của hạnh nhân (LDL là dạng cholesterol có liên quan đến xơ vữa động mạch và bệnh tim). Khi hạnh nhân được thay thế cho các chất béo truyền thống trong các thử nghiệm chế độ ăn ở người, LDL cholesterol có thể giảm 8-12%.

Ngoài chất béo lành mạnh và vitamin E, 1/4 chén hạnh nhân chứa 62 mg magiê cộng với 162 mg kali.

Magiê là chất “chẹn kênh canxi thiên nhiên”. Khi có đủ magiê, tĩnh mạch và động mạch giãn ra, làm giảm sức đề kháng và cải thiện dòng chảy của máu, oxy và chất dinh dưỡng trong cơ thể. Nghiên cứu cho thấy sự thiếu hụt magiê không chỉ liên quan đến cơn đau tim mà còn làm dễ khởi phát cơn đau tim.

Kali, một chất điện phân quan trọng liên quan đến việc dẫn truyền thần kinh và sự co lại của tất cả các tế bào cơ bao gồm cơ tim, là một chất rất cần thiết cho việc duy trì huyết áp bình thường và chức năng tim.

Hạnh nhân thúc đẩy sức khỏe tim mạch của bạn bằng cách cung cấp 162 mg kali và chỉ có 0,2 mg natri, với cấu trúc này và các tính chất như đã phân tích làm cho hạnh nhân là một sự lựa chọn đặc biệt tốt để bảo vệ chống lại bệnh tăng huyết áp và chống xơ vữa động mạch. Hãy thử dùng hạt hạnh nhân trong chế độ ăn hàng ngày của bạn.

TS.BS. Lê Thanh Hải

(tham khảo Whfoods)

Tã giấy Hugggies

Khi được hỏi bạn chọn tã/bỉm cho con dựa trên những yếu tố nào thì đến 90% bà mẹ trả lời rằng chỉ tập trung vào chất lượng thấm hút và không mẩn đỏ hoặc hăm da ở trẻ khi mặc.

Làn da của bé vốn mong manh và nhạy cảm, rất dễ bị tác động bởi môi trường xung quanh. Chiếc tã giấy quấn quanh vùng mông bé gần như 24/24 không chỉ đóng vai trò như một sản phẩm hỗ trợ mà còn là người bạn đồng hành giúp mẹ chăm sóc làn da, sự yên giấc cho bé.

Tã thấm hút nhanh giúp mông bé luôn khô thoáng

Được sản xuất theo công nghệ tiên tiến, toàn bộ quy trình sản xuất tã giấy được quản lý theo công nghệ khép kín để tạo ra những sản phẩm đảm bảo chất lượng, tã giấy Huggies được tăng cường hạt thấm hút giúp thấm hút toàn bộ chất lỏng bên trong tã. Ngoài ra, bề mặt tã tăng cường lớp thấm siêu nhanh giúp chất lỏng nhanh chóng thấm vào bên trong dù cho bề mặt tã luôn khô thoáng. Vì thế, bé sẽ luôn cảm thấy khô thoáng khi mặc tã Huggies.

Tã giấy Hugggies - bạn đồng hành tin cậy cho làn da bé 1

Với trẻ sơ sinh, bề mặt khô thoáng của tã giấy Huggies giúp bé ngủ ngon giấc và không còn quấy khóc do bị ẩm ướt vào nửa đêm. Với trẻ ở tuổi hiếu động, tã giấy Huggies giúp bé thoải mái chơi đùa, không ngứa ngáy khó chịu dù mặc tã suốt cả ngày. Mẹ sẽ hạn chế được công việc giặt giũ để có nhiều thời gian chăm sóc bản thân và gia đình.

 Ngoài ra, mẹ có thể chọn bỉm quần Huggies dành cho các bé ở tuổi hiếu động, việc thay tã sẽ rất dễ dàng và nhanh chóng với ba thao tác đơn giản: “xé thun bên hông”, “mặc nhanh tã mới” và thả bé ra tiếp tục vui chơi.

Tã giấy được chứng nhận y khoa giúp ngăn ngừa hăm tã

Ngoài khả năng thấm hút nhanh và bề mặt khô thoáng, tã dán và tã quần/ bỉm quần Huggies còn là sản phẩm đầu tiên và duy nhất tại Việt Nam đạt chứng nhận y khoa giúp ngăn ngừa hăm tã.

Với các mẹ có con nhỏ, hăm tã là một vấn đề khiến các mẹ vô cùng lo lắng và điều này khiến mẹ ngại mặc tã cho bé. Triệu chứng hăm tã thường thấy là làn da bị nổi mẩn đỏ, mụn nước gây đau và rất khó chịu cho bé.

Tã giấy Hugggies - bạn đồng hành tin cậy cho làn da bé 2

Hăm tã thường gặp khi mẹ chọn tã không đảm bảo chất lượng cho bé. Ngoài ra có một số nguyên nhân khác như mặc tã quá lâu, không được vệ sinh đúng cách... Vì vậy, lựa chọn tã giấy có chất lượng đảm bảo và sử dụng đúng cách sẽ rất quan trọng trong việc ngăn ngừa hăm tã. Tã giấy Huggies hiểu được những lo lắng của mẹ và mong muốn đồng hành chăm sóc làn da nhạy cảm của bé một cách tốt nhất. Vì thế, Huggies đã mang đến sản phẩm tã giấy được chứng nhận y khoa giúp ngăn ngừa hăm tã với màng đáy thoát ẩm 100% giúp hạn chế tối đa tình trạng hăm da, đặc biệt phù hợp với khí hậu Việt Nam.  

Tã giấy Hugggies - bạn đồng hành tin cậy cho làn da bé 3

Là thương hiệu tã duy nhất tại Việt Nam đạt chứng nhận y khoa giúp ngăn ngừa hăm tã cùng với màng đáy thoát ẩm 100% và khả năng thấm hút tuyệt vời, Huggies tự tin mang đến cho bé của bạn sự chăm sóc tốt nhất.


Cảnh giác với bệnh động mạch chi dưới mạn tính

Nguyên nhân gây bệnh

Có nhiều nguyên nhân dẫn tới tình trạng bệnh lý này, trong đó vữa xơ động mạch chiếm hàng đầu. Hậu quả của bệnh động mạch chi dưới mạn tính ít gây tử vong (khoảng 1%) nhưng nó ảnh hưởng rất nhiều tới cuộc sống, sinh hoạt, làm việc và lao động của người bệnh, thậm chí trở thành tàn phế, là gánh nặng cho gia đình và xã hội. Điều trị còn nhiều khó khăn cả về phương diện nội, ngoại khoa cũng như phục hồi chức năng.

Phát hiện bệnh như thế nào?

Hầu hết các bệnh nhân ở giai đoạn đầu của bệnh sẽ thấy dấu hiệu đau cách hồi: đau khi đi lại, dừng lại nghỉ sẽ đỡ đau và lại đau khi tiếp tục đi. Khoảng cách quãng đường khi xuất hiện đau càng ngắn thì mức độ bệnh càng nặng. Ban đầu, bệnh nhân có thể xuất hiện đau khi đi khoảng 1.000 mét, nhưng càng về sau, có thể chỉ đi 200 mét đã đau hoặc ngắn hơn, thậm chí đau cả khi không đi lại, đau khi nghỉ ngơi. Hiện nay, đa số người bệnh đến khám khi đã ở giai đoạn muộn, khi người bệnh ngồi tại chỗ cũng đau.

Bệnh động mạch ngoại biên của chi dưới.

Nếu không được điều trị, chi dưới không được cung cấp máu đầy đủ, khi đó không những xuất hiện đau mà sẽ xuất hiện viêm loét hoặc hoại tử đầu chi do thiếu máu. Đây là biến chứng nặng nề, sẽ dẫn đến cắt cụt chi gây tàn phế cho người bệnh. Tùy vào vị trí bị hoại tử mà cắt cụt cao hay thấp.

Khám tại chỗ sẽ thấy khó bắt mạch hoặc không bắt được mạch ở ngoại vi. Bác sĩ sẽ đo huyết áp ở cổ chân và tính ra một thông số gọi là chỉ số ABI, tính bằng huyết áp tâm thu ở cổ chân chia cho huyết áp tâm thu ở tay. Bình thường chỉ số này từ 0,9 đến 1,3.

Khi ABI bình thường (0,9-1,3): hệ thống động mạch bình thường hoặc tổn thương động mạch không gây hậu quả về huyết động.

Khi ABI từ 0,75-0,9: có bệnh tắc nghẽn động mạch chi dưới, tuy nhiên còn được bù trừ tốt.

Khi ABI từ 0,4-0,75: tình trạng bù trừ ở mức trung bình, chỉ đủ cấp máu cho nhu cầu chuyển hóa lúc nghỉ.

Khi ABI dưới 0,4: giai đoạn bệnh nặng, ảnh hưởng đến chức năng của chi và hậu quả về huyết động nghiêm trọng.

Các xét nghiệm để đánh giá chính xác mức độ tổn thương thường được áp dụng hiện nay gồm siêu âm mạch máu, chụp cắt lớp đa dãy (MSCT) mạch máu và chụp mạch sẽ xác định được mức độ hẹp mạch máu, vị trí chính xác của mạch máu bị hẹp. Đây là những xét nghiệm mà nhiều trung tâm, bệnh viện tuyến tỉnh, trung ương đã thực hiện được một cách thường quy. Các xét nghiệm này giúp bác sĩ có phương án điều trị phù hợp.

Điều trị như thế nào?

Nếu bệnh không được phát hiện và điều trị sớm sẽ dẫn đến đầu chi không được cung cấp máu đầy đủ, có thể phải cắt cụt chi do hoại tử. Vì vậy, phát hiện sớm và điều trị đúng chuyên khoa là điều quan trọng nhất. Các phương pháp điều trị hiện nay bao gồm:

Điều trị bằng thuốc: Tất cả bệnh nhân đều phải được điều trị bằng thuốc một cách hệ thống. Các thuốc được dùng gồm thuốc chống huyết khối (thuốc chống ngưng tập tiểu cầu), các thuốc vận mạch, giúp điều hòa lưu huyết, tăng khả năng biến dạng của hồng cầu, giảm tình trạng kết tập tiểu cầu, tăng cường máu đến nuôi dưỡng chi.

Điều trị bằng can thiệp mạch: Đây là phương pháp tiên tiến và đã được áp dụng tại nhiều trung tâm tim mạch. Phương pháp này không phải mổ, chỉ dùng một dụng cụ luồn vào động mạch bị hẹp, nong đoạn hẹp và đặt giá đỡ (stent) tại vị trí hẹp. Kết quả của điều trị bằng can thiệp mạch đã đạt được kết quả rất tích cực.

Điều trị ngoại khoa: Phẫu thuật vẫn là phương pháp điều trị cơ bản, bác sĩ sẽ làm một cầu nối mới đi vòng qua chỗ động mạch bị tổn thương. Có thể dùng cầu nối bằng tĩnh mạch hoặc bằng mạch nhân tạo. Dù điều trị bằng ngoại khoa hay bằng can thiệp mạch, sau đó người bệnh vẫn tiếp tục được theo dõi và duy trì điều trị thuốc.

Lời khuyên của bác sĩ

Bệnh có liên quan nhiều đến các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến mạch máu bao gồm: thuốc lá, tăng huyết áp, tăng mỡ máu, bệnh đái tháo đường. Vì vậy, người bệnh cần tuyệt đối bỏ thuốc lá và điều trị, kiểm soát tốt các bệnh kèm theo như kiểm soát tốt huyết áp, điều trị bệnh đái tháo đường và tình trạng rối loạn chuyển hóa lipid.

Một vấn đề quan trọng nhất là cần khám và phát hiện bệnh sớm, ở giai đoạn chưa đau khi nghỉ ngơi hay chưa có viêm loét, hoại tử chi do thiếu máu. Phát hiện sớm sẽ giúp người bệnh tránh được tàn phế do các biến chứng của bệnh.

Khi đã xuất hiện bệnh, có đau cách hồi, người bệnh cần được tư vấn bởi bác sĩ chuyên khoa tim mạch và dùng thuốc thường xuyên theo chỉ dẫn. Theo dõi định kỳ để có biện pháp can thiệp kịp thời tránh biến chứng.

BS. NGô Tuấn Anh (Bệnh viện TWQĐ 108)

Bổ sung thừa vitamin C có hại cho cơ thể không?

Dưới đây là những phân tích khoa học về cách bổ sung Vitamin C của Ths.Bs. Nguyễn Văn Tiến - Viện Dinh dưỡng Quốc gia

VitaminC có tên khoa học là acid ascorbic tham gia vào quá trình tạo kẹo (hình thành collagen), tổng hợp Carnitin, tổng hợp chất dẫn truyền thần kinh, hoạt hóa hormon, khử độc, là chất chống oxy hóa, giúp hấp thu và xử dụng sắt, calci và acid folic. Ngoài ra, vitaminC còn có chức năng chống lại dị ứng, là tăng chức năng miễn dịch, kích thích tạo dịch mật và giải phóng các hormon steroid. VitaminC cần cho chuyển đổi thành acid mật, liên quan đến giải độc.

Những người có nguy cơ thiếu vitamin C gồm: Người hút thuốc lá và những người tiếp xúc với khói thuốc lá, những người ăn uống không đầy đủ: nghiện rượu, người cao tuổi, một số người mắc bệnh như: kém hấp thu đường ruột, các bệnh thận ảnh hưởng hấp thu và sử dụng vitamin C.

Hoa quả có nhiều vitamin C

Hiện nay, thiếu Vitamin C hiếm gặp. Triệu chứng ban đầu không đặc hiệu như mệt mỏi, thở nông, khô ráp, chậm lành vết thương và có những nốt xuất huyết da, xuất huyết mạch. Thiếu vitamin C kéo dài có thể dẫn đến xuất huyết thành mạch (vitamin C có tác dụng giữ bền thành mạch máu).

Rau quả là nguồn cung cấp vitamin C và caroten cho cơ thể, rau còn cung cấp các chất khoáng có tính kiềm như kali, can xi, magie. Hoa quả tươi và rau lá là nguồn cung cấp rất giàu vitamin C như: cam, quýt, chanh, soài, đủ đủ, cà chua, cải xanh, nhãn, hành, mồng tơi, ngót, dền,..

Nhu cầu về vitamin C: trẻ từ 6-11 tháng là 25-30 mg/ngày, trẻ từ 1-6 tuổi là 30 mg/ngày, trẻ từ 7-9 là 35 mg/ngày, tuổi vị thành niên 10-18 tuổi là 65 mg/ngày, người trưởng thành là 70 mg/ngày, phụ nữ có thai là 80 mg/ngày, bà mẹ cho con bú là 95 mg/ngày. Việc ăn rau quả hàng ngày vô cùng quan trọng đối với sức khỏe.

Theo Ths.Bs. Nguyễn Văn Tiến - Viện Dinh Dưỡng Quốc gia, nếu sử dụng vitamin C khoảng 1.000mg/ngày thường xuyên có thể dẫn đến: buồn nôn, tiêu chảy, tăng nguy cơ sỏi thận...

Nên ăn phối hợp nhiều loại rau quả để có đủ các loại vitamin và chất khoáng tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiêu hóa và hấp thu các thành phần dinh dưỡng khác. Mức tiêu thụ rau quả cho người trưởng thành là 300g rau/người/ngày, quả là 100g/người/ngày, với trẻ em cần lượng từ 100-200g/trẻ/ngày.

Hàng ngày, cơ thể ăn đủ nhu cầu rau xanh và hoa quả chín thì không cần bổ sung thêm thực phẩm chứa vitamin C. Nếu cơ thể tiêu hóa và hấp thu kém thì có thể bổ sung thực phẩm chứa vitamin C (theo chỉ định của bác sỹ). Vitamin C là loại tan trong nước, nếu thừa vitamin C cơ thể sẽ tự đào thải ra ngoài qua đường nước tiểu.

Như vậy, thiếu vitamin C khi cơ thể hấp thu được dưới 10mg/ngày, kéo dài trong nhiều tuần.

Vì vitamin C là vitamin tan trong nước nên sẽ tự thải ra ngoài nếu thừa vitamin C. Tuy nhiên, nếu sử dụng vitamin C khoảng 1.000mg/ngày thường xuyên có thể dẫn đến: buồn nôn, tiêu chảy, tăng nguy cơ sỏi thận,...

Thanh Loan

Cây vòi voi có chữa được viêm da cơ địa dễ dàng?

Vợ cháu bị viêm da cơ địa ở tay khá lâu rồi, mỗi khi thay đổi thời tiết tay mẩn ngứa rất khó chịu. Vân tay cũng gần như bị mất. Cháu nghe nói cây vòi voi chữa được bệnh này. Mong bác sĩ tư vấn giúp cháu. Cháu xin cảm ơn ạ!

Đỗ Văn Thạch (kisithotang@gmail.com)

Theo sách “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” của cố giáo sư Đỗ Tất Lợi: Cây vòi voi còn gọi là vòi voi, cẩu vĩ trùng, đại vĩ đạo. Sở dĩ có tên vòi voi vì cụm hoa của cây giống hình vòi con voi. Người ta dùng toàn cây, hái về phơi khô hoặc dùng tươi. Vòi voi có 2 tác dụng chủ yếu: cao rượu vòi voi có tác dụng tốt với những trường hợp viêm hay cương tụ huyết chưa làm mủ: đắp cao rượu vòi voi giúp làm dịu đau ngay, bệnh nhân có cảm giác mát dịu, không nhức nhối, đắp trong 3-4 ngày, đắp ướt liên tục. Nếu đã làm mủ rồi, cao rượu vòi voi không có tác dụng làm tan mủ nhưng cũng có tác dụng làm cho mủ không lan rộng hơn và làm bớt sưng tấy. Tác dụng thứ 2 là chữa sưng đầu gối với triệu chứng: mỏi đầu gối sau vài ba ngày thì đỏ và sưng to, sốt nhẹ, đau không đi lại được. Dùng cây tươi chặt thành đoạn nhỏ, giã dập bỏ vào nồi sao với dấm hoặc với rượu, gói vào miếng vải, buộc vào chỗ sưng. Trong nhân dân, vòi voi là vị thuốc chữa tê nhức mụn nhọt, viêm họng mẩn ngứa. Dùng uống trong hay xoa đắp bên ngoài. Ngày uống 15-20g tươi. Tuy nhiên cũng theo sách này thì cây vòi voi có tính độc. Tính độc này thường không thể hiện ngay mà thường xuất hiện một cách âm ỉ, kéo dài, khó phát hiện, vì vậy Tổ chức Y tế Thế giới khuyến cáo không nên dùng vòi voi làm thuốc. Bộ Y tế (1985) cũng có chỉ thị thận trọng khi dùng vòi voi chữa bệnh dù chỉ là dùng ngoài để đắp theo y học cổ truyền. Và không thấy nói đến tác dụng điều trị bệnh viêm da cơ địa của vợ bạn.

Cây vòi voi.

Tốt nhất bạn nên đưa vợ đi khám để điều trị theo chỉ dẫn của bác sĩ hoặc lương y. Điều quan trọng là người bệnh cần giữ ẩm cho da, tránh tiếp xúc với hóa chất tẩy rửa, xà phòng... tránh thức ăn mà cơ thể dị ứng vì đó là nguyên nhân làm bệnh tái phát và thêm nặng.

BS. Vũ Lan Anh

Ngọc trúc

Ngọc trúc còn có tên là nữ ủy, là thân rễ phơi hay sấy khô của cây ngọc trúc. Ngọc trúc chứa các glucosid convallamarin và convallarin, sinh tố A và tinh bột, chất nhầy. Theo Đông y, ngọc trúc vị ngọt, tính hơi hàn; vào phế, vị. Có tác dụng tư âm nhuận phế, sinh tân dưỡng vị, trừ phiền chỉ khát. Trị các chứng phế âm hư, vị âm hư, có ho khan do phế táo, sốt, khát, đái dắt, trợ tiêu hoá. Hằng ngày dùng 9 - 20g bằng cách nấu, hầm, xào, nướng.

ngoc trucCây ngọc trúc.

Bài thuốc trị bệnh có ngọc trúc:

Tư âm nhuận phế: Trị các chứng âm hư nội nhiệt, hoặc bệnh nhiệt phạm đến phần âm, sốt ho khan, miệng khô, đau họng.

Bài 1: ngọc trúc 12g, hành sống 3 cây, cát cánh 6g, bạch vị 4g, đậu xị 16g, bạc hà 6g, chích thảo 3g, hồng táo 2 quả. Sắc uống. Trị âm hư, cảm mạo.

Bài 2: Thang ngọc trúc mạch môn đông: ngọc trúc 16g, sa sâm 12g, mạch môn đông 12g, cam thảo 8g. Sắc uống. Trị chứng phổi và dạ dày khô nóng phạm đến phần âm, họng khô, miệng khát.

Sinh tân dưỡng vị: Trị chứng phế vị táo nhiệt (phổi và dạ dày khô nóng), tân dịch khô, miệng khát, dạ dày rất nóng, ăn nhiều chóng đói. Dùng Thang ích vị: sa sâm 16g, sinh địa 20g, ngọc trúc 12g, mạch đông 12g. Sắc uống. Trị sốt cao cuối kỳ còn sốt lai rai, họng khô, miệng khát.

Nhuận phế chỉ khái: Trị chứng phổi khô nóng sinh ho, họng khô, đờm đặc không khạc ra được.

Bài 1: Ngọc trúc 20g, sa sâm 8g, ý dĩ nhân 16g. Sắc uống. Trị ho lao, ho khan, đờm ít.

Bài 2: Thang sa sâm mạch đông: sa sâm 12g, mạch môn 12g, ngọc trúc12g, thiên hoa phấn 12g, tang diệp 12g, cam thảo 4g. Sắc uống. Trị chứng phế vị táo nhiệt, ho khan ít đờm, họng khô, miệng khát. Nếu trong người nóng quá thì thêm địa cốt bì 12g.

Hỗ trợ tim mạch

Bài 1: Ngọc trúc 12g, đương quy 12g, tần cửu 12g, cam thảo 12g. Sắc uống liền trong 1 tuần. Trị thấp tim.

Bài 2: Ngọc trúc 12g, mạch môn 12g, bách hợp 12g, thạch hộc 12g. Sắc uống liền trong 1 tuần. Phòng nhiễm bệnh bạch hầu và viêm cơ tim.

Bài 3: Cao sâm trúc: Đảng sâm 12g, ngọc trúc 20g. Sắc uống. Phòng và điều trị bệnh đau do co thắt mạch vành.

Món ăn thuốc có ngọc trúc:

Nhựa mận vịt ngọc trúc: ngọc trúc 50g, sa sâm 50g, vịt 1 con, hành tây 1 củ, gừng tươi 6g. Vịt làm sạch, cho vào nấu với sa sâm, ngọc trúc, đầu tiên đun to lửa cho chín, sau cho nhỏ lửa tiếp trong 1 giờ cho chín nhừ, lấy nước bỏ bã thuốc, cho gia vị. Thích hợp cho người bệnh thái đáo đường, viêm teo niêm mạc dạ dày, suy nhược, táo bón.

Thịt lợn hầm ngọc trúc: thịt lợn 200g thái lát, ngọc trúc 15 - 30g. Hầm nhừ, bỏ bã thuốc, thêm gia vị. Dùng cho người ho khan dài ngày.

Tim lợn tiềm ngọc trúc: tim lợn 500g, ngọc trúc 50g, gừng tươi 10g, hành sống 10g. Ngọc trúc nấu lấy nước bỏ bã. Cho nước, gừng, hành, ớt tươi và tim lợn vào nồi luộc chín, đổ nước ngọc trúc vào, đun cho tim lợn chín nhừ và nước cạn dần, thêm gia vị muối mắm, đường trắng, bột ngọt, đun tiếp thành nước canh đặc. Thích hợp cho người bệnh mạch vành, đái tháo đường, lao phổi.

Cháo ngọc trúc: ngọc trúc 30g, gạo tẻ 80 - 100g. Ngọc trúc nấu lấy nước bỏ bã, cho gạo nấu cháo, khi ăn thêm đường trắng. Dùng cho người ho khan dài ngày (phế âm hư) hoặc sau sốt cao miệng khô rát họng (vị âm hư).

Thịt dê hầm ngọc trúc: ngọc trúc 20g, thịt dê nạc 200g, gia vị thích hợp, muối vừa đủ, hầm cách thuỷ. Tác dụng bổ huyết dưỡng âm. Tốt cho thời kỳ dưỡng bệnh, người sau đẻ, âm hư huyết hư, suy nhược sút cân, mỏi mệt mất sức.

Kiêng kỵ: người đầy trướng bụng, đàm thấp (ho nhiều đờm, tiêu chảy lỏng lỵ) không dùng. Khi chế biến nấu ăn không dùng đồ sắt (dao, nồi sắt).

Lương y: Thảo Nguyên